ADELAIDE TUẦN BÁO – Nhân dịp Ni Sư Thích Nữ Triệt Như hoằng pháp tại Adelaide vào tháng 11/2017, chúng tôi xin giới thiệu cùng quý vị bài viết sau đây của Hòa Thượng Thích Thông Triệt, là người đã sánglập ra dòng Thiền Tánh Không.
Thầy ngộ đạo lần đầu năm 1982 sau nhiều thử thách, qua Hoa Kỳ năm 1993, và sau đó đã đi khắp nơi dạy thiền cho đồng bào hải ngoại. Thầy là tác giả nhiều sách về thiền và hiện trụ trì tại Thiền Viện Tánh Không tại Perris, California.
Định rõ thái độ
Thiền không phải là một phép mầu, có những khả năng siêu phàm, cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi khổ đau, phiền não. Nó chỉ là dụng cụ, nếu chúng ta sáng suốt sử dụng nó, nó sẽ trở thành dụng cụ tốt, giúp ta chuyển hóa nội tâm, thoát khổ, giác ngộ, và giải thoát.
Có nhiều người nghĩ rằng khi đến với Thiền, họ chỉ cần được dạy cách tu làm sao để họ đạt được đốn ngộ, họ sẽ thành Phật. Cũng có nhiều người nghĩ rằng họ chỉ cần học cách kiến tánh để thành Phật. Rồi họ ôm ấp những
tư tưởng đó. Họ đến với Thiền, tu để kiến tánh hay để đốn ngộ. Nhưng tu mãi, từ năm này sang năm khác, họ vẫn không làm sao đốn ngộ, không làm sao kiến tánh… Từ đó, kiến tánh và đốn ngộ trở thành hai chủ đề kỳ bí và
hấp dẫn trong Thiền.
Đến với Thiền mà mang tư tưởng đó trong đầu thì ta không bao giờ giáp mặt Thiền được. Bởi vì cả hai chủ đề đốn ngộ và kiến tánh, đòi hỏi ta phải trải qua những tiến trình tu học và thực tập thứ lớp trong thời gian dài, qua nhiều chặng, chớ không phải không có thứ lớp như nhiều người đã nghĩ. Thái tử Siddhattha trở thành Phật qua bốn tầng Thiền, chớ không phải Ngài không qua thứ lớp. Chặng cuối cùng của Ngài là trạng thái “tâm Tathā”. Tâm này ngoài lời. Nó dựa trên “ba hành không động”. Trong quyển: Luận Giảng Vấn Đáp Tiến Trình Tu Chứng và Thành Đạo Của Đức Phật, chúng tôi đã giải thích rõ ý nghĩa Ba Hành Không Động là gì, và thái tử Siddhattha đã kiến
những tánh gì.
Để tránh ngộ nhận về Thiền, nên mở đầu các khóa Tu Học, chúng tôi định rõ thái độ của chúng ta khi dấn thân đi vào Thiền. Chúng ta khiêm tốn, không nao nức, không mong cầu những điều quá khả năng của chúng ta.
Khả năng kỳ diệu
Tuy nhiên, trên thực tế, nếu thực hành đúng Pháp, đúng kỹ thuật, ta sẽ nhận ra rằng Thiền thực sự có những khả năng kỳ diệu.
Trước hết, Thiền giúp thân ta được cân bằng hay hài hòa bên trong chính nó, gồm nội tạng, khí huyết, cơ bắp, xương, da. Từ đau ốm bệnh tật, ta điều chỉnh hay chữa dứt khỏi một số bệnh thông thường, như cao máu, tim
mạch, cao máu mỡ, hen suyễn, dị ứng, hay làm cho đường trong máu được quân bình…
Thiền giúp tâm chúng ta điều chỉnh, chữa được những chứng bệnh căng thẳng thần kinh (stress) kinh niên, trầm cảm, mất ký ức, lo âu kinh niên, bệnh dính mắc, tự cao, tự đại, xem mình là số một. Thuật ngữ gọi là bệnh chấp ngã, chấp kiến, chấp pháp.
Ta rộng lượng, bao dung, tha thứ, và dễ dàng thông cảm người khác. Ta sống có trí tuệ và từ bi với muôn loài chúng sinh một cách tự nhiên.
Thiền cũng giúp thân và tâm chúng ta hài hòa với nhau. Qua đó, ta sẽ kinh nghiệm hài hòa với mọi người chung quanh: từ trong gia đình đến ngoài xã hội, và môi trường thiên nhiên.
• Cao hơn nữa, Thiền có khả năng giúp ta phát huy trí tuệ tâm linh. Ta sẽ có những khả năng sáng tạo, những sáng kiến mới về những vấn đề phù hợp theo lãnh vực chuyên môn của ta. Ngoài ra, ta cũng kinh nghiệm được năng lực biện tài và từ trường tâm từ, tâm bi, tâm hỉ, tâm xả.
Xa hơn nữa, Thiền có khả năng hướng dẫn ta cách kinh nghiệm nhân chứng. Trước khi từ giã cõi đời, ta có thể làm chủ nghiệp thức để tự tại ra đi. Ta không để cận tử nghiệp xấu trồi lên.
Đây là những khả năng hợp lý, thiết thực, và kỳ diệu mà qua dụng công đều đặn các pháp trong Thiền, chúng ta sẽ kinh nghiệm được. Trong đó không có điều gì huyền bí. “Phép lạ” của Thiền chỉ là những tiến trình Biết (Knowing) hay Nhận Biết (Awareness), và Nhận Thức Biết (Cognitive Awareness).
Như thế, mọi người đều có thể thực hành Thiền được. Và chúng ta không xây dựng những tư tưởng hão huyền trong Thiền.
Tóm lại, con người có ba phần: thân, tâm, và trí tuệ tâm linh. Thực hành Thiền đúng pháp, đúng kỹ thuật, và đúng chức năng của não bộ là cơ chế Tánh Giác và cơ chế Tâm Tathā, ta sẽ nhận ra giá trị thực tiễn của Thiền trong đời sống con người.
Những khả năng nói trên dựa vào nguyên lý tâm linh tác động – tác dụng. Nguyên lý tác động – tác dụng Trong Thiền, nguyên lý này là một nguyên lý thực tiễn. Tác động là cách làm. Tác dụng là hiệu quả hay kết quả của cách
làm. Làm đúng, hưởng quả tốt. Làm sai, hưởng quả xấu. Nguyên lý này nằm trong phạm vi hồi đáp sinh học trong
Thiền.
Khi thực hành bất kỳ chủ đề nào trong Thiền, hiệu quả của nó sẽ đưa đến xấu hay tốt, lợi hay hại cho thân, tâm, và trí tuệ tâm linh của chúng ta. Tại sao?
Vì trong cơ thể chúng ta, từ trong đầu đến các tuyến nội tiết và hệ thần kinh, nội tạng, cơ bắp đều có các chất nước hóa học, được gọi là “chất sinh hóa” (biochemical substances). Chúng là những “nội tiết tố” (hormones). Chúng có khả năng làm cho thân đau bệnh hay khỏe mạnh; tâm an vui hay chán nản; ký ức mất: quên trước, quên sau,
hay phục hồi, hoặc nhớ dai.
Thực hành thiền lâu năm, chúng tôi đã kinh nghiệm được điều này. Sai, đưa đến bệnh. Đúng, đưa đến khỏe mạnh. Nhưng thế nào là sai? Thế nào là đúng?
Đúng là khi áp dụng các pháp trong Thiền do Phật hay Tổ dạy, ta không cố gắng quá mức, không nỗ lực tối đa, không tập trung tư tưởng vào đối tượng. Ta thực hành thong thả, tà tà, thư giãn, nhưng đều đặn; không bỏ sót thời khóa dụng công trong ngày và cũng không chuyên nặng về tư thế ngồi với quyết chí đì thân, đì tâm. Càng đì thân, đì tâm, ta sẽ không tránh khỏi bệnh tâm thể như cao máu, tiểu đường, béo phì.
Ta thực hành trong bốn tư thế đi, đứng, nằm, ngồi (ngồi chơi) hay ngồi nghiêm chỉnh bằng những phương tiện do Phật dạy. Ta áp dụng những cách: biết, chỉ biết, biết rõ ràng đầy đủ (chánh niệm tỉnh giác), biết như thật trong
bốn oai nghi. Bằng cách này, ta sẽ đi thẳng vào một trong ba tánh trong cơ chế Tánh Giác. Ta không đi lòng vòng. Không lấy đá đè cỏ. Không đì tâm, không đì thân. Qua cách thực hành như vậy, các chất nước hóa học sẽ được tiết ra từ đối giao cảm thần kinh (parasympathetic nervous system), từ vùng Dưới Đồi (hypothalamus), từ trong các
tuyến nội tiết, và từ trong cuống não như chất: serotonin, melatonin, acetylcholine, endorphine, dopamine, insulin, v.v…
Sai là áp dụng các pháp trong Thiền do Phật hay Tổ dạy mà chúng ta cố gắng quá mức, nỗ lực dụng công quá mức, tập trung tư tưởng quá mức vào các chủ đề. Hoặc ta dùng ý thức, ý căn hay trí năng méo mó để dụng công. Bằng cách này ta sẽ tác động vào giao cảm thần kinh (sympathetic nervous system) thường trực, đưa đến các chất sinh hóa học xấu được tiết ra để làm hại cơ thể chúng ta. Thí dụ như: norepinephrine (noradrenaline), epinephrine (adrenaline), cortisol, glucagon…
Tuy là một môn thuộc về tâm linh, nhưng Thiền là một môn khoa học thực nghiệm. Vì khi chúng ta thực hành, toàn bộ tế bào não, các định khu vỏ não, hệ thống viền não, hệ thống ký ức, hệ thống thần kinh, hệ thống tuyến nội tiết đều bị tác động đồng bộ theo hai nguyên tắc phản xạ.
Bằng giác quan để kích thích các tánh trong cơ chế Tánh Giác, gọi là “phản xạ giác quan.” Bằng nhận thức biết để kích thích tánh Tự Nhận Thức Biết trong vùng Precuneus, gọi là “phản xạ thụ động.” Phản xạ giác quan đưa đến ngộ. Phản xạ thụ động đưa đến hoàn toàn chứng ngộ.
Chúng tôi mong rằng quí vị nắm vững nguyên lý tác động – tác dụng để tránh thực hành sai lạc.
Hòa Thượng Thích Thông Triệt