
Theo Lý thuyết Thông tin và Điều khiển học, mọi cỗ máy chỉ có thể hoạt động dưới sự điều khiển của một hệ điều hành. Do đó, nếu vũ trụ và sự sống là những cỗ máy, chúng phải là những cỗ máy thông tin, giống như computers, thay vì những cỗ máy động lực học thuần túy. Đó là một quan điểm triết học mới mà chúng ta phải thấu triệt nếu chúng ta muốn hiểu rõ hơn về vũ trụ và sự sống.
Cỗ máy là gì?
Cỗ máy (machine) là “một tập hợp các thành phần được kết nối với nhau theo một trình tự nào đó để truyền hoặc biến đổi lực nhằm thực hiện một công việc hữu dụng nào đó”, đó là định nghĩa của Từ điển COLLINS English Dictionary.
Chúng ta đang sống trong thế giới của các cỗ máy:
- Cỗ máy do con người chế tạo: Xe hơi, máy bay, điện thoại, TV, computer …
- Cỗ máy tự nhiên: cây cối, virus, kiến, sâu bọ, ong, bướm, sư tử, voi, cá voi …
- Cỗ máy đặc biệt nhất là con người
- Cỗ máy sinh động nhất là sự sống.
- Cỗ máy vĩ đại nhất là vũ trụ.
Dưới ánh sáng của khoa học thông tin và điều khiển học, ta thấy định nghĩa của từ điển Collins không đầy đủ. Chẳng hạn, một chiếc computer, dù có đủ các thành phần được sắp xếp theo đúng trình tự thiết kế, nhưng sẽ không thể hoạt động được nếu không có hệ điều hành. Một chiếc computer không có hệ điều hành sẽ là một cỗ máy “chết”. Một sinh vật không có hệ điều hành – hệ mã DNA – cũng là một sinh vật “chết”. Vậy:
Tất cả các cỗ máy đều phải có hệ điều hành, dù là cỗ máy do con người hay tự nhiên chế tạo.
Đó là một NGUYÊN LÝ CƠ BẢN của Lý thuyết Thông tin và Điều khiển học. Thậm chí hệ điều hành phải có trước – thông tin phải có trước – đúng như tên cuốn sách của Tiến sĩ Werner Gitt: “In the Beginning Was Information” (Khởi đầu đã có thông tin), do Master Books xuất bản lần đầu tiên năm 2000.
Ngay từ Chương 1, Werner Gitt đã khảo sát 5 cỗ máy (gồm 4 cỗ máy tự nhiên và 1 cỗ máy do con người chế tạo) rồi đi đến kết luận khẳng định:
- Tất cả các cỗ máy đều phải có một hệ điều hành được “cài đặt” vào bên trong cỗ máy ấy để chỉ huy hoạt động của nó.
- Tất cả các cỗ máy sẽ lập tức ngừng hoạt động (chết) nếu hệ thông tin điều hành bị xóa hoặc bị mất.
Kết luận đó lập tức cho thấy mọi mô hình về sự sống thuần túy dựa trên vật lý và hóa học (mà không có thông tin hướng dẫn) đều là “mô hình chết”. Nói cách khác, mô hình sự sống thuần túy động lực học không thể giải thích được bản chất của sự sống. Việc cố gắng giải thích sự sống thuần túy bằng các lực vật lý và hóa học (mà không có thông tin) sẽ sai lầm và thất bại.
Qua đó có thể thấy, thông tin đóng vai trò chìa khóa để giải thích thế giới!
Với hiểu biết của chúng ta hiện nay, kết luận nói trên là điều hiển nhiên, dễ hiểu và dễ chấp nhận. Nhưng trớ trêu thay, lịch sử hơn 150 năm qua lại cho thấy điều ngược lại – hóa ra nó không dễ dàng được chấp nhận như ta tưởng. Hãy cùng nhìn lại lịch sử để thấy rõ điều trớ trêu này.
Lược sử nhận thức sự sống
● Trong thời cổ đại, ở Hy Lạp từng thịnh hành một học thuyết được gọi là “Thuyết Tự Sinh” (Doctrine of Spontaneous Generation) mà tác giả chẳng phải ai khác nhà đại triết gia Aristotle. Học thuyết này cho rằng sự sống đã nẩy sinh một cách tự phát từ vật chất không sống! Thí dụ như chuột nẩy sinh từ rơm rạ, dòi bọ sinh ra từ rác rưởi… Nhiều người có thể bật cười khi nghe chuyện đó. Nhưng những ai biết rõ lịch sử của Thuyết Tự Sinh thì sẽ không cười, vì mặc dù thuyết này đã bị Louis Pasteur đập tan, ấy thế mà nó vẫn tiếp tục tồn tại dưới những hình thức biến tướng. Thật vậy:
● Năm 1861, Louis Pasteur làm Thí nghiệm Bình cổ cong Thiên nga, bác bỏ Thuyết Tự Sinh và nêu lên Định luật Tạo sinh (Biogenesis), khẳng định sự sống chỉ ra đời từ sự sống. Có nghĩa là tồn tại một điều kiện bí mật nào đó nằm trong sự sống mà những thứ vô sinh không có. Thiếu điều kiện đó, sự sống không thể hình thành. Ngày nay chúng ta biết điều kiện đó là thông tin, cụ thể là mã DNA!
● Nhưng năm 1871, Charles Darwin lại nêu lên giả thuyết về “Cái ao nhỏ ấm áp”, cho rằng sự sống đã ra đời một cách ngẫu nhiên từ vật chất vô sinh cách đây hàng tỷ năm trong một “cái ao nhỏ ấm áp”, nơi có sẵn những chất hữu cơ cần thiết cho sự sống, và điều kiện môi trường thuận lợi cho sự sống nẩy sinh. Chú ý rằng đây là một GIẢ THUYẾT chứ không phải một lý thuyết hoặc một định luật đã được chứng minh. Thực chất giả thuyết này của Darwin là một biến tướng của Thuyết Tự Sinh vốn đã bị Pasteur bác bỏ.
● Trong những năm 1920, Oparin ở Nga và Haldane ở Anh đề xuất giả thuyết “Nồi súp nguyên thủy”, hoặc “nồi súp tiền sinh thái”, nội dung cơ bản cũng giống như “Cái ao nhỏ ấm áp” của Darwin, chỉ bổ sung thêm những chi tiết về các phản ứng hóa học, phân chia các giai đoạn hình thành phân tử từ đơn giản đến phức tạp, và tưởng tượng ra sự hình thành phân tử sống đầu tiên, nghe có vẻ rất khoa học, nhưng thực chất vẫn chỉ là một biến tướng của Thuyết Tự Sinh mà thôi.
● Năm 1953, Urey và Miller đã làm thí nghiệm nhằm chứng minh giả thuyết của Oparin và Haldane là hiện thực. Họ đã chế tạo ra acid amin – một loại phân tử được quảng cáo rùm beng là thành phần cơ bản của sự sống (!). Nhưng ngày nay mọi người biết rõ rằng lời quảng cáo đó là sai sự thật. Thực tế, Thí nghiệm Urey-Miller chỉ chế tạo ra acid amin đối xứng, không phải acid amin bất đối xứng của sự sống. Vô tình, Urey và Miller đã có công chứng minh rằng tưởng tượng của Darwin – Oparin – Haldane là một giấc mơ hão huyền! Tại sao? Có 2 lý do cơ bản:
– Một, phản ứng hóa học không thể ngẫu nhiên tạo ra các phân tử bất đối xứng. Các tương tác hóa học ngẫu nhiên luôn luôn tạo ra phân tử đối xứng gương với tỷ lệ 50/50. Nói cách khác, các phản ứng hóa học ngẫu nhiên luôn luôn vi phạm Định luật Bất Đối xứng của Sự Sống, do Louis Pasteur khám phá ra từ năm 1848. Cả Darwin lẫn các môn đệ của ông rõ ràng là không thấm nhuần định luật này, vì thế họ mới dám nghĩ rằng sự sống có thể ra đời ngẫu nhiên từ vật chất vô sinh!
– Hai, vật chất không đẻ ra thông tin – các phản ứng hóa học thuần túy không bao giờ tạo ra mã DNA, thông tin thiết yếu phải có để chỉ huy và hướng dẫn sự hình thành sự sống.
● Từ đó đến nay, hàng loạt thí nghiệm tương tự như Thí nghiệm Urey-Miller đã được tiến hành dưới một tên gọi rất kêu là lý thuyết “tiến hóa hóa học” (chemical evolution), tiêu rất nhiều tiền của, nhưng vẫn hoàn toàn thất bại, không tài nào chế tạo được sự sống từ vật chất vô sinh. Thực tế, những thí nghiệm này chỉ chế tạo ra những chất độc hại đối với sự sống.
Kết luận lớn rút ra từ những thất bại này là:
- Tương tác thuần túy vật lý và hóa học KHÔNG BAO GIỜ tạo ra THÔNG TIN CỦA SỰ SỐNG – mã DNA!
- Chìa khóa quyết định sự hình thành sự sống là mã DNA. Không có mã DNA sẽ không có sự sống!
Kết luận đó đẩy sinh học thuần túy động lực học (thuần túy vật lý và hóa học) đến giới hạn và buộc sinh học phải có một cách nhìn hoàn toàn mới về bản chất sự sống. Nói cách khác, sinh học hiện nay đang dừng lại ở ngã ba đường:
- Hoặc thừa nhận mã DNA do Nhà Lập Trình Sự Sống viết ra
- Hoặc phải đối mặt với NAN ĐỀ: “Mã DNA từ đâu mà ra?”
Các nhà sinh học theo mô hình Lamarck-Darwin không muốn thừa nhận sự hiện hữu của Nhà Lập Trình Sự Sống, nên buộc họ phải đối mặt với NAN ĐỀ về nguồn gốc thông tin của sự sống.
Nan đề về nguồn mã DNA
Giải thưởng 5 triệu USD do nhóm Perry Marshall lập ra[1] vẫn đang sẵn sàng trao cho bất kỳ ai trả lời được câu hỏi về nguồn gốc thông tin của sự sống.
Nhưng dưới con mắt của các nhà khoa học về thông tin, đây là một NAN ĐỀ vô vọng của sinh học thuần túy vật lý và hóa học:
“Bởi vì mọi quá trình sống đều đòi hỏi phải có thông tin, nên có thể khẳng định rằng thông tin là đặc trưng thiết yếu của mọi sự sống. Mọi nỗ lực giải thích sự sống bằng những thuật ngữ thuần túy vật lý và hóa học sẽ luôn luôn thất bại. Đây là NAN ĐỀ CƠ BẢN mà sinh học ngày nay – nền sinh học dựa trên thuyết tiến hóa – phải đối mặt” [Werner Gitt, sách đã dẫn, Lời Nói Đầu, t. 11].
Nan đề ấy giống như một vách đá thẳng đứng ở bờ biển, ấy thế mà Manfred Eigen, Giáo sự Đại học Göttingen, từng đoạt Giải Nobel hóa học năm 1967, vẫn hy vọng vượt qua vách đá ấy bằng một phỏng đoán mong manh:
“Thông tin nẩy sinh từ cái không phải là thông tin” [W.G. sđd, t.99]. Ý ông muốn nói là thông tin có thể nẩy sinh từ vật chất, nhưng ông không dám nói thẳng như thế.
Phát biểu này cho thấy một nhà khoa học đoạt Giải Nobel vẫn có thể không hiểu gì về bản chất của thông tin.
Vậy thông tin là gì?
“Thông tin là thông tin, không phải vật chất hay năng lượng. Không có học thuyết vật chất nào không thừa nhận điều này mà có thể sống sót trong thời đại ngày nay”[2], đó là tuyên bố của Norbert Wiener, cha đẻ của Điều Khiển học.
Werner Gitt cũng nói rất rõ:
● Thông tin là một thực thể phi vật chất [Định lý 1, Sđd, t.52].
● Vật chất không thể làm nẩy sinh thông tin [Định lý 23, Sđd, t.79].
● Mọi thông tin đều bắt nguồn từ một trí tuệ thông minh [Sđd t.81]
● Thông tin là điều kiện tiên quyết của sự sống [Sđd t.81]
Có nghĩa là chúng ta không thể giải thích bản chất sự sống hoặc nguồn gốc sự sống chỉ thuần túy bằng vật lý và hóa học. Werner Gitt khẳng định:
“Bất kỳ mô hình nào về nguồn gốc sự sống và về nguồn gốc của thông tin chỉ dựa trên các quá trình vật lý và hóa học đều là sai lầm từ gốc rễ” [sđd, t.98]
Muốn giải thích bản chất sự sống, hoặc nguồn gốc sự sống, bắt buộc phải giải thích được nguồn mã DNA. Nhưng điều này vượt quá khả năng của khoa học động lực học! Và đó là điều Lord Kelvin dự đoán ngay từ cuối thế kỷ 19:
“Tôi tin rằng một lần nữa các nhà sinh học hiện đại đang đi tới một sự chấp nhận chắc chắn về một cái gì đó vượt quá ngay cả lực hấp dẫn, lực hóa học và các lực vật lý; và rằng cái không biết ấy là một nguyên lý về sự sống”[3].
Cái vượt quá lực hấp dẫn, lực hóa học và các lực vật lý, và là nguyên lý của sự sống ấy chính là thông tin của sự sống – mã DNA! Kelvin có trực giác thiên tài!
Vậy đã đến lúc phải nhận ra rằng mô hình sự sống của Lamarck và Darwin không thể hoạt động được nữa, bởi vì chìa khóa mở cánh cửa bí mật sự sống không nằm ở các phản ứng hóa học, mà nằm ở thông tin.
“Sự sống là một hệ thống phần mềm của DNA” (Life is a DNA software system), đó là tuyên bố của Craig Venter, một trong những nhà tiên phong trong dự án Giải mã Bộ Gene Người năm 2000.
Vậy phần mềm ấy do ai viết?
Francis Collins, Giám đốc Dự án Giải mã Bộ Gene Người, trả lời: Đó là ngôn ngữ do Thần (God) viết. Nhưng các nhà sinh học theo chủ nghĩa tự nhiên không chịu. Họ cố gắng húc vào bức tường đá: “Nguồn mã DNA”. Đó là một bi hài kịch, đã được mô tả sống động trong một bài báo trên tờ The Guardian của Anh ngày 26/01/2019, dưới hàng tít: “Bên trong cuộc đấu tranh nhằm định nghĩa sự sống”[4].
The Guardian nói về bế tắc của sinh học hiện nay

Bài báo mở đầu bằng lời khẳng định rằng khoa học đã đạt được nhiều thành tựu vĩ đại, nhưng vẫn bế tắc trong việc xác định bản chất sự sống:
“Tất cả các tế bào não của sự sống trên Trái Đất vẫn không thể giải thích được (bản chất của) sự sống trên Trái Đất. Loài thông minh nhất của nó đã khám phá được những đơn vị cơ bản của vật chất, giải mã được vô số bộ gene và quan sát được sự rung động của không-thời gian khi các lỗ đen va vào nhau. Nó hiểu khá rõ sinh vật hoạt động ra sao nhưng không biết chúng hình thành như thế nào. Thậm chí không có sự thống nhất về quan điểm sự sống là gì”.
Có nghĩa là đến hôm nay khoa học vẫn không biết sự sống từ đâu mà ra! Thậm chí bài báo đó làm cho nhiều nhà sinh học cảm thấy chua chát khi nhận định:
“Câu hỏi hóc búa về sự sống là bài toán cơ bản và quan trọng đến nỗi việc giải quyết được bài toán ấy sẽ được xếp hạng trong số những thành tựu quan trọng nhất về nhận thức của con người. Nhưng bất chấp mọi nỗ lực của các nhà khoa học – mà đã có đầy ắp những nỗ lực như thế – những câu hỏi lớn vẫn còn đó. Nếu sinh học được định nghĩa như một khoa học nghiên cứu sự sống, thì nó là một khoa học thất bại”[5].
Nhưng các nhà sinh học theo chủ nghĩa tự nhiên không chịu thất bại. Họ hy vọng vào sự “cứu rỗi” từ vật lý. Thật vậy, bài báo viết:
“Nhưng điều làm sáng tỏ có thể đến từ một hướng khác. Thay vì sinh học, một số nhà khoa học hiện đang tìm kiếm câu trả lời từ vật lý học – đặc biệt là vật lý về thông tin. Bí mật của sự sống và có lẽ cả lý do cho sự tồn tại của chúng ta bị chôn vùi trong các định luật về hình thành thông tin…”
Một trong số những nhà khoa học tin rằng vật lý về thông tin có thể trở thành cứu cánh của sinh học là Paul Davies, một nhà vật lý nổi tiếng, từng là Giáo sư vật lý tại Đại học Cambridge ở Anh và hiện là Giáo sư Đại học Bang Arizona ở Mỹ. Quan điểm của Davies thể hiện tình trạng nước đôi luẩn quẩn của nhiều nhà khoa học nay: một mặt thừa nhận sự sống là một cỗ máy thông tin (vì không thể chối cãi với những sự thật đã được khám phá), mặt khác vẫn muốn tìm nguồn gốc thông tin từ vật lý (tức là muốn quay về mô hình sự sống thuần túy vật lý và hóa học).
Thật vậy, trước hết Davies thừa nhận sự sống là một cỗ máy thông tin:
“Sự sống không chỉ là những phản ứng hóa học phức tạp. Tế bào còn là một hệ thống lưu trữ, xử lý và sao chép thông tin”[6]:
Thậm chí, Davies còn đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò quyết định của thông tin đối với sự sống, gián tiếp bác bỏ mô hình Lamarck-Darwin:
“Hiện nay chúng ta biết rằng bí mật của sự sống không nằm trong các thành phần hóa học như thế, mà nằm trong cấu trúc logic và sự xếp đặt có tổ chức của các phân tử… Giống như một siêu computer, sự sống là một hệ thống xử lý thông tin… Chính “phần mềm” của tế bào sống mới là bí mật thực sự, chứ không phải “phần cứng.”[7].
Rồi ông nêu lên những câu hỏi thách đố sinh học:
“Nhưng “phần mềm” ấy từ đâu mà ra?”, “Làm thế nào mà những nguyên tử ngu ngốc lại có thể tự phát viết ra phần mềm của chúng? … Không ai biết”.
Nhưng cuối cùng, thay vì thừa nhận “phần mềm” ấy xuất phát từ Nhà Lập Trình cho Sự Sống như Francis Collins và nhiều người khác đã thừa nhận, Davies vẫn kỳ vọng vào việc khám phá ra nguồn gốc của thông tin từ các quá trình vật lý:
“Chúng ta cần phải giải thích nguồn gốc của thông tin này và cái cách mà trong đó những cỗ máy xử lý thông tin xuất hiện”.
Đó là một ảo tưởng hão huyền, trái với khẳng định của Werner Gitt:
“Bất kỳ mô hình nào về nguồn gốc sự sống và về nguồn gốc của thông tin chỉ dựa trên các quá trình vật lý và hóa học đều là sai lầm từ gốc rễ” [sđd, t.98]
Tóm lại, chỉ có một lối thoát duy nhất cho sinh học là:
Thừa nhận sự sống là một cỗ máy thông tin, thông tin là yếu tố quyết định sự hình thành và duy trì sự sống chứ không phải các phản ứng hóa học, và nguồn gốc thông tin ấy ắt phải là một Siêu Trí tuệ Thông minh.
Kết luận trên cũng có thể suy rộng ra vũ trụ.
Vũ trụ – cỗ máy thông tin vĩ đại nhất
Không cần phải đợi đến thời đại thông tin chúng ta mới biết vũ trụ là một cỗ máy. Từ xa xưa nhân loại đã biết điều này. Khoa học càng phát triển càng cung cấp thêm nhiều dữ liệu để thấy vũ trụ là một cỗ máy khổng lồ do Đấng Sáng tạo chế tạo ra, và cỗ máy ấy vận hành theo một trật tự được xác định bởi các định luật tự nhiên, như Định luật hấp dẫn, các định luật của cơ học Newton, các định luật về điện từ và ánh sáng, các định luật về tương đối tính, các định luật của Cơ học lượng tử, các định luật về bảo toàn, bao gồm công thức E = mc2, các định luật về lực hạt nhân, Định luật Entropy, các định luật Pasteur về sự sống, các định luật Mendel về di truyền…
Theo nguyên lý của Lý thuyết Thông tin và Điều khiển học, tất cả các cỗ máy đều phải có Hệ điều hành, và chúng chỉ có thể hoạt động được khi có Hệ điều hành. Vậy nếu vũ trụ là một cỗ máy và hoạt động theo các định luật tự nhiên thì nó phải là một cỗ máy thông tin. Khi đó, tập hợp các định luật tự nhiên chính là THÔNG TIN ĐIỀU HÀNH VŨ TRỤ, hoặc “Hệ điều hành” của vũ trụ, do Nhà Lập trình Vũ trụ (Đấng Sáng tạo) viết ra.
Khi Werner Gitt đặt tên cho cuốn sách của ông là “Khởi đầu đã có thông tin”, ông ngụ ý rằng THÔNG TIN PHẢI CÓ TRƯỚC – thông tin phải có ngay từ lúc khởi thủy của vũ trụ để chỉ huy và điều khiển sự hình thành và phát triển của vũ trụ theo một chương trình định sẵn, thay vì để cho vũ trụ phát triển một cách ngẫu nhiên.
Thật vậy, nhiều nhà khoa học ngày nay không tin một vụ nổ ngẫu nhiên như vụ nổ Big Bang có thể tạo ra một vũ trụ có trật tự như hiện nay. Trật tự ắt phải là kết quả của một chương trình định sẵn do một trí tuệ thông minh đặt ra. Có nghĩa là trí tuệ thông minh ấy phải có trước!
Tất nhiên các nhà khoa học theo chủ nghĩa tự nhiên (naturalism) không tán thành điều đó. Đối với chủ nghĩa này, không có một lực lượng siêu nhiên nào đứng bên ngoài hoặc bên trên vũ trụ để can thiệp vào hoạt động của vũ trụ, vì mọi hiện tượng vũ trụ đều có thể giải thích được bằng các định luật tự nhiên. Nhưng chính khoa học hiện đại đã dẫn chủ nghĩa tự nhiên tới bế tắc. Thật vậy:
● Mã DNA dồn chủ nghĩa tự nhiên tới câu hỏi không thể trả lời: “Ai” viết ra mã DNA? Hoặc cái gì đã tạo ra thông tin của sự sống?
● “Nguyên tử nguyên thủy” (Primeval Atom), tức điểm khởi đầu của vũ trụ trong Lý thuyết Big Bang, cũng dẫn chủ nghĩa tự nhiên tới câu hỏi không thể trả lời: “Ai” hoặc “cái gì” đã tạo ra “nguyên tử nguyên thủy”? Một cựu khoa học gia hàng đầu của NASA là Robert Jastrow đã diễn tả điều này một cách hóm hỉnh như sau:
“Đối với nhà khoa học sống bằng niềm tin của mình vào sức mạnh của lý lẽ, câu chuyện kết thúc như một giấc mơ buồn. Anh ta đã leo lên những ngọn núi của sự vô minh; sắp chinh phục được đỉnh cao nhất; khi vượt qua tảng đá cuối cùng, anh ta được chào đón bởi một nhóm các nhà thần học đã ngồi ở đó trong nhiều thế kỷ”.
Ý của Jastrow là chính khoa học tự nhiên đã dẫn đến kết luận cuối cùng rằng Thần là cần thiết, và đó là điều các nhà thần học đã kết luận từ xa xưa.
Dưới ánh sáng của Định lý Gödel, chúng ta càng thấy chủ nghĩa tự nhiên là sai lầm. Điều này đã được Perry Marshall nói rất rõ trong một bài giảng nổi tiếng của ông nhan đề “Định lý Bất toàn của Gödel: Khám phá Toán học số 1 trong thế kỷ 20”[8]:
“Nếu bạn có dịp thăm một trang mạng vô thần lớn nhất thế giới có tên là Infidels, bạn sẽ thấy trên trang chủ lời tuyên bố sau đây:
“Chủ nghĩa duy tự nhiên (naturalism) là giả thuyết cho rằng thế giới tự nhiên là một hệ đóng, ngụ ý rằng không có cái gì không phải là thành phần của thế giới tự nhiên mà lại ảnh hưởng lên nó”
Nếu bạn biết định lý Gödel, bạn sẽ thấy rằng mọi hệ logic phải phụ thuộc vào một cái gì đó ở bên ngoài hệ thống. Vậy theo định lý bất toàn của Gödel, tuyên bố của trang mạng Infidels không thể chính xác. Nếu vũ trụ là logic, nó phải có một nguyên nhân bên ngoài.
Do đó chủ nghĩa vô thần vi phạm các định luật của lý lẽ và logic.
Định lý Bất toàn của Gödel chứng minh một cách dứt khoát rằng khoa học không bao giờ có thể lấp kín những lỗ hổng của chính nó. Chúng ta không có lựa chọn nào khác là nhìn ra bên ngoài khoa học để tìm câu trả lời.
Tính Bất toàn của vũ trụ không phải là chứng minh cho việc God tồn tại. Nhưng… đó LÀ chứng minh cho nhận định rằng để kiến tạo nên một mô hình vũ trụ hợp lý thì niềm tin vào Thần không chỉ logic 100%… mà đó là điều cần thiết.”
Một người thấm nhuần Định lý Gödel sẽ thấy ý kiến của Perry Marshall rất hợp lý và dễ hiểu, nhưng các nhà khoa học theo chủ nghĩa tự nhiên thì không, vì thế giới của họ không có chỗ cho Thần. Điển hình là Stephen Hawking.
Hawking từng tin vào Thần như Nhà Thiết kế của Vũ trụ. Nhưng về cuối đời ông ngả theo chủ nghĩa tự nhiên, tuyên bố Thần là không cần thiết. Thật vậy, trong cuốn sách cuối cùng, “Grand Design” (Thiết kế lớn) xuất bản năm 2010, ông tuyên bố:
“Vì đã có một định luật như luật hấp dẫn, vũ trụ có thể và sẽ tự tạo ra nó từ hư không. Không cần phải cầu viện đến Thần châm ngòi nổ (cho vũ trụ) và đưa vũ trụ vào vận hành”[9].
Nếu đã thừa nhận có một định luật như luật hấp dẫn (trước khi có vũ trụ) thì có nghĩa là đã thừa nhận sự TỒN TẠI của một THÔNG TIN / hoặc một CHƯƠNG TRÌNH / hoặc một PHẦN MỀM của vũ trụ. Vậy theo Lý thuyết Thông tin, ắt phải có NHÀ LẬP TRÌNH CỦA VŨ TRỤ. Điều này trái với kết luận của chính Hawking rằng không cần cầu viện đến Thần.
Tại sao một người xuất sắc như Hawking lại mắc phải sai lầm logic rất đơn giản đó? Vì ông không thấm nhuần khái niệm thông tin – ông không nghĩ rằng các định luật tự nhiên chính là những thông tin điều hành vũ trụ. Những ai đã đọc bài giảng của Hawking năm 2003 nhan đề “Gödel và sự kết thúc của vật lý”[10] sẽ thấy Hawking tự mâu thuẫn với chính bản thân mình. Thật vậy, trong bài giảng đó, ông nói:
“Nhưng chúng ta không phải là những thiên thần nhìn vũ trụ từ bên ngoài. Thay vào đó, cả chúng ta lẫn các mô hình của chúng ta đều là một bộ phận của vũ trụ mà chúng ta đang mô tả. Như vậy, một lý thuyết vật lý là một hệ tự quy chiếu, như trong định lý của Gödel. Do đó người ta có thể cho rằng nó hoặc không nhất quán hoặc không đầy đủ. Cho đến nay, các lý thuyết hiện có vừa không nhất quán vừa không đầy đủ.”.
Kết luận nói trên của Hawking là một kết luận sáng suốt, thể hiện một nhận thức thấm nhuần Định lý Gödel, rằng vũ trụ cần đến một chỗ dựa ở bên ngoài nó, đúng như lập luận của Perry Marshall mà chúng ta vừa đề cập ở trên. Nhưng vì vật lý theo chủ nghĩa tự nhiên không thừa nhận bất kỳ một lực lượng siêu nhiên nào bên ngoài vũ trụ, vì thế nó không bao giờ có thể hiểu đầy đủ về vũ trụ. Nói cách khác, vật lý không thể giải thích nguồn gốc vũ trụ. Đây là hệ quả tất yếu rút ra từ Định lý Gödel, và điều này rõ ràng là hoàn toàn trái với tuyên bố rất tự phụ của Hawking về nguồn gốc vũ trụ, rằng vũ trụ có thể tự sinh ra nó từ hư không!
Thực ra, trong số những nhà khoa học hàng đầu, những người suy nghĩ như Hawking là thiểu số. Hầu hết các nhà khoa học giỏi nhất đều tin vào sự cần thiết phải có Nhà Lập Trình Vũ Trụ, tức Đấng Sáng Tạo, đúng như Perry Marshall đã nói:
“Để kiến tạo nên một mô hình vũ trụ hợp lý thì niềm tin vào Thần không chỉ logic 100%… mà đó là điều cần thiết”
Đây, xin lắng nghe phát biểu của những nhà khoa học cùng thời với Hawking[11].
Alexander Polyakov, một nhà toán học Xô viết: “Chúng ta biết rằng Tự Nhiên được mô tả bằng những thứ toán học đẹp đẽ nhất trong số những toán học có thể có, vì Thần đã tạo ra nó”
Roger Penrose, nhà toán học và vật lý học xuất sắc nhất thế giới hiện nay, người vừa đoạt Giải Nobel vật lý năm 2020: “Tôi có thể nói rằng vũ trụ có một mục đích. Nó không ở đó chỉ vì tình cờ”. [Dịp khác trang PVHg’s Home sẽ giới thiệu về Roger Penrose, Hôm nay chỉ xin nhấn mạnh Penrose giỏi hơn Hawking rất nhiều]

Paul Davies, Giáo sư vật lý Đại học Oxford: “Các định luật [vật lý] … dường như là sản phẩm của sự thiết kế vô cùng tài tình … Vũ trụ phải có mục đích”
Allan Sandage, người từng đoạt Giải Crawford về thiên văn học: “Tôi không thể tin được rằng (một vũ trụ) trật tự như thế mà lại xuất phát từ sự hỗn loạn. Phải có một số nguyên tắc tổ chức. Đối với tôi Thần là một bí ẩn nhưng là lời giải thích cho điều kỳ diệu của sự tồn tại”
John O’Keefe, nhà thiên văn học thuộc NASA: “Nếu Vũ trụ không được tạo ra với độ chính xác cao nhất, chúng ta có thể không bao giờ tồn tại. Theo quan điểm của tôi, những hoàn cảnh này cho thấy vũ trụ được tạo ra để con người sinh sống”.
Tony Rothman, Giáo sư Đại học Harvard, Đại học Princeton University: “Khi đối mặt với trật tự và vẻ đẹp của vũ trụ và những sự trùng hợp kỳ lạ của tự nhiên, thật là tuyệt vời để thực hiện một bước nhảy từ khoa học sang tôn giáo. Tôi chắc chắn rằng nhiều nhà vật lý muốn điều đó. Tôi chỉ mong họ sẽ thừa nhận điều đó”.
Vera Kistiakowsky, Giáo sư Đại học MIT: “Thứ tự tinh tế được hiển thị bởi sự hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới vật chất đòi hỏi sự thiêng liêng”
Frank Tipler, Giáo sư vật lý toán: “Khi tôi bắt đầu sự nghiệp của mình với tư cách là một nhà vũ trụ học cách đây khoảng 20 năm, tôi là một người theo thuyết vô thần. Trong những giấc mơ hoang đường nhất của mình, tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng một ngày nào đó tôi sẽ viết một cuốn sách với mục đích chứng tỏ rằng những tuyên bố chủ yếu của thần học Do-Thái-Ki-tô giáo trên thực tế là đúng, rằng những tuyên bố này là những suy luận đơn giản của các định luật vật lý mà chúng ta hiện nay hiểu được. Tôi đã bị ràng buộc vào những kết luận này bởi logic không thể thay đổi của ngành vật lý đặc biệt của riêng tôi”.
Barry Parker, nhà vũ trụ học: “Ai đã tạo ra những định luật này? Không nghi ngờ gì nữa rằng Thần luôn luôn cần thiết”
Arthur L. Schawlow, Giáo sư Đại học Stanford, người đoạt Giải Nobel vật lý năm 1981: “Đối với tôi, dường như khi đối mặt với những điều kỳ diệu của cuộc sống và vũ trụ, người ta phải hỏi tại sao chứ không phải chỉ bằng cách nào. Câu trả lời khả dĩ duy nhất là … Tôi thấy cần có Thần trong vũ trụ và trong cuộc sống của chính mình”.
Henry Fritz Schaefer, Giáo sư hóa học tại Đại học Georgia: “Ý nghĩa và niềm vui trong khoa học của tôi đến trong những khoảnh khắc thỉnh thoảng khám phá ra điều gì đó mới mẻ và tự nhủ rằng “Đó là cách Thần làm”. Mục tiêu của tôi là hiểu được một góc nhỏ trong kế hoạch của Thần”
Antony Flew, Giáo sư Triết học, từng là nhà biện hộ số 1 của Thuyết Tiến hóa về mặt triết học: “Đối với tôi bây giờ dường như những phát hiện của hơn 50 năm nghiên cứu DNA đã cung cấp tài liệu cho một lập luận mới và cực kỳ mạnh mẽ cho quan điểm (vũ trụ đã được) thiết kế”
Frank Tipler, Giáo sư vật lý toán: “Từ quan điểm của các lý thuyết vật lý mới nhất, Cơ đốc giáo không phải là một tôn giáo đơn thuần, mà là một khoa học có thể kiểm chứng bằng thực nghiệm”.
[1] https://viethungpham.com/2018/08/08/evolution-2-0-prize-giai-thuong-5-trieu-usd-cho-thuyet-tien-ho/
[2] Information is information, neither matter nor energy Information is information, not matter or energy. No materialism which does not admit this can survive at the present day https://www.informationphilosopher.com/solutions/scientists/wiener/
[3] https://zapatopi.net/kelvin/quotes/
[4] Tạm dịch từ nguyên văn: I predict a great revolution”: inside the struggle to define life https://www.theguardian.com/science/2019/jan/26/i-predict-great-revolution-physicists-define-life-paul-davies
[5] Tôi tô đậm để nhấn mạnh (PVHg)
[6] Dẫn theo COMPILATION OF QUOTES ON THE COMPLEXITY OF A CELL AND THE SCIENTIFIC MYSTERY OF LIFE’S ORIGIN By Ashby L. Camp http://theoutlet.us/Quotesoncomplexityofcellandoriginoflife.pdf
[7] https://www.glodiebybel.co.za/aanhalings-informasie-waarskynlikheid-oorsprong-van-lewe/
[8] Xem “Định lý Gödel, Nền tảng của Khoa học Nhận thức Hiện đại”, Phạm Việt Hưng, NXB Tri Thức 2019, trang 84 https://viethungpham.com/2014/08/29/dinh-ly-bat-toan-cua-godel-kham-pha-toan-hoc-so-1-trong-the-ky-20/
[9] Because there are laws such as gravity, the universe can and will create itself from nothing. It is not necessary to invoke God to light the blue touch paper and set the Universe going. https://www.age-of-the-sage.org/scientist/stephen_hawking_god_religion.htm
[10] Định lý Gödel – Nền tảng của Khoa học Nhận thức hiện đại, Phạm Việt Hưng, NXB Tri Thức, 2019, trang 130 https://viethungpham.com/2012/03/27/toan-van-bai-gi%E1%BA%A3ng-c%E1%BB%A7a-stephen-hawking-godel-s%E1%BB%B1-k%E1%BA%BFt-thuc-c%E1%BB%A7a-v%E1%BA%ADt-ly/
[11] Toàn bộ các ý kiến trông phần này đều được dẫn từ nguồn EVIDENCE FOR GOD https://www.godandscience.org/apologetics/quotes.html
Tác giả: GS Phạm Việt Hưng